NGUYÊN LIỆU LÀM HƯƠNG QUÝ SINH    

Thu hoạch hương bài

Sau 12 tháng chăm trồng, quả ngọt đã về với người nông dân.

Bột hương bài

Bột hương bài được đóng gói cân thận trước khi đến tay khách hàng.

Rễ hương bài

Rễ hương bài đang được chế biến.

Bột Quế

Thu mua chế biên bột quế tại xưởng.

Hương cội nguồn

Tinh chất hương bài cổ truyền

Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2020

Việt Nam đẹp đến ngỡ ngàng qua bức ảnh trên tạp chí nhiếp ảnh hàng đầu thế giới

 

Việt Nam luôn là điểm đến lý tưởng cho du khách gần xa với nhiều địa danh đẹp. Những bức ảnh về cảnh sắc thiên nhiên, con người Việt đã được Tạp chí National Geographic của Hội Địa lý Quốc gia Mỹ lựa chọn đăng tải trong năm 2016 thực sự đem lại ấn tượng sâu sắc cho người xem.

Được biết, Tạp chí National Geographic ra mắt gần 130 năm trước và nhanh chóng nổi tiếng toàn cầu với những bức ảnh có tính nghệ thuật cao.

 

Bức ảnh “Cánh đồng hương” được bình chọn là ảnh đẹp nhất ngày 3/12 trên mục Your Shot. Những người thợ làm hương truyền thống ngồi giữa hàng chục bó hương đầy màu sắc được xếp lại cẩn thận. Độc giả nhận xét bức ảnh có màu sắc và bố cục đẹp, đồng thời kể được câu chuyện ý nghĩa về nghề làm hương truyền thống ở Việt Nam.


Suu tam

Làng nghề hương trầm Quỳnh Đôi - Quỳnh Lưu: tích cực chuẩn bị hàng phục vụ tết

 

Được UBND tỉnh chính thức công nhận từ năm 2011, đến nay làng nghề sản xuất hương trầm xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu đã có gần 20 hộ tham gia làm nghề thường xuyên với tổng số lao động khoảng 60 người. Trong đó thời gian sản xuất cao điểm từ tháng 6 đến tháng 12 âm lịch hàng năm.

Nghề làm hương trầm ở Quỳnh Đôi đã có truyền thống mấy chục năm nhưng từ khi được UBND tỉnh chính thức công nhận đã tạo thêm động lực mới cho các hộ sản xuất, sản phẩm làm ra ngày càng nhiều và chất lượng càng được khẳng định trên thị trường trong và ngoài tỉnh. Để tạo điều kiện giúp đỡ lẫn nhau và cùng góp phần đưa thương hiệu hương trầm Quỳnh Đôi ngày càng mở rộng, xã Quỳnh Đôi đã thành lập hội làm nghề hương trầm và đi vào hoạt động hiệu quả. Năm 2014, trong hội thi tay nghề giỏi do liên minh hợp tác xã tỉnh tổ chức, hội làm nghề hương trầm Quỳnh Đôi vinh dự đạt giải 3.


Thời điểm hiện nay đã là trung tuần tháng 10 âm lịch, bà con làng nghề hương trầm Quỳnh Đôi đã hoàn thành các khâu chuẩn bị về nguyên liệu và hiện đang tích cực quấn hương trầm, dán tem nhãn, đóng gói, chuẩn bị xuất bán kịp phục vụ thị trường tết cuối năm. Bình quân mỗi năm, làng nghề hương trầm Quỳnh Đôi sản xuất được khoảng 205.000 búp với tổng doanh thu gần 1,3 tỷ đồng. Thu nhập bình quân của mỗi lao động đạt hơn 3,2 triệu đồng/người/tháng.

Hiện nay, để phục vụ nhu cầu nhân dân trong dịp tết, bà con làng nghề đang tích cực sản xuất để vừa đáp ứng nhu cầu thị trường vừa nâng cao thu nhập. Theo ông Hồ Quốc Việt – trưởng làng nghề sản xuất hương trầm Quỳnh Đôi thì đến thời điểm này, bà con làng nghề đã sản xuất được khoảng 40 – 50% sản lượng, một số hộ đã bắt đầu xuất bán đi các thị trường xa như các tỉnh phía Nam, khu vực Tây Nguyên. Riêng tại cơ sở sản xuất Hương Quỳnh của ông, đến nay cũng đã sản xuất được 40 ngàn búp, phấn đấu từ nay đến hết năm âm lịch sẽ sản xuất thêm 45 ngàn búp nữa.

ết đến xuân về, bên cạnh mâm ngũ quả, nồi bánh chưng xanh thì mỗi gia đình Việt Nam đều có thêm những búp hương trầm để vị tết thêm đậm đà hơn. Theo chân người, hương trầm Quỳnh Đôi đã góp phần làm nên hương vị tết Việt đậm bản sắc ở nhiều vùng quê./.

 

Lê Nhung

Đài Quỳnh Lưu

Tổ chức tập huấn kỹ thuật trồng cây Rễ hương (HƯƠNG BÀI)

 

Sáng ngày 20/4/2016 Huyện đoàn Quế Phong phối hợp với Liên minh HTX tỉnh Nghệ An tổ chức lớp tập huấn kỹ thuật trồng cây rễ hương  cho 25 đoàn viên thanh niên xã Tiền Phong. Đợt tập huấn diễn ra trong 3 ngày (từ 20 - 22/4).

Qua đợt tập huấn các học viên sẽ được cung cấp thông tin về tình hình sản xuất cây hương bài ở trong nước cũng như tỉnh Nghệ An và tiềm năng phát triển cây hương bài tại huyện Quế Phong; hướng dẫn nắm bắt kỹ thuật trồng và chăm sóc cây hương bài từ tạo giống, phương thức trồng, làm đất, chọn đất, khoảng cách, thu hoạch và sơ chế sản phẩm…Bên cạnh truyền đạt lý thuyết, các học viên còn được giảng viên hướng dẫn thực hành các kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch cây rễ hương.

Hiện nay, cây hương bài được xem là cây có giá trị kinh tế cao, rễ hương dùng làm hương đốt trong các ngày lễ tết có mùi thơm ngào ngạt. Cây phù hợp với nhiều loại đất có khả năng chịu bóng, rét, hạn tốt nên vừa có thể trồng được ngoài nắng và cả trong bóng râm nơi có tàn che thưa.

 

huong-bai-quy-sinh-1

Tại Nghệ An, cây Hương bài được trồng tại các huyện Quỳnh Lưu, Thanh Chương,Yên Thành, Anh Sơn, Quỳ Hợp, Quỳ Châu…Thị trường tiêu thụ khá thuận lợi, nguyên liệu sản xuất ra hiện nay chưa đủ đáp ứng nhu cầu của thị trường. Tại huyện Quế Phong, cây hương bài chưa được chú trọng phát triển. Chưa có mô hình trồng thử nghiệm mà chỉ có một số rất ít các hộ dân trồng tự phát để cung ứng cho gia đình (tại xã Tiền Phong khoảng 20 hộ trồng). Tuy nhiên, tiềm năng phát triển diện tích cây Hương bài trên địa bàn huyện đang rất lớn bởi Quế Phong tiếp giáp ới huyện Quỳ Châu – nơi nổi tiếng với thiêu hiệu Hương trầm có khí hậu và địa hình khá tương đồng. Mặt khác, nguồn nguyên liệu sản xuất tại Quế Phong sẽ được vận chuyển rất thuận lợi về Quỳ Châu để sản xuất hương trầm, tù đó hạ giá thành sản phẩm nguyện liệu cho người dân. Mặt khác, với diện tích đất rừng và đất chưa khai thác của Quế Phong hiện nay khoảng hơn 96% thì việc phát triển cây hương bài dưới tán rừng là hướng đi đúng để tăng hiệu quả sản xuất trên đơn vị diện tích.

Đây là một trong những nội dung phối hợp giữa Huyện đoàn Quế Phong và Liên minh HTX tỉnh Nghệ An trong việc thực hiện dự án Sinh kế bền vững cho thanh niên miền núi Quế Phong nhằm cung cấp kiến thức về khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp, tạo sinh kế bền vững cho đoàn viên thanh niên góp phần xóa đói giảm nghèo trên địa bàn huyện.

Nguồn: Mong Văn Tình – Huyện đoàn Quế Phong

Làm nhang từ lá cỏ vườn nhà

 

Vừa bước vào vườn dược liệu ở Tây Ninh, chị Bảo đã thoăn thoắt tay bẻ lá cây đinh lăng ngửi thử mùi hương, rồi nhanh chóng xoay sang nhổ cỏ, vun gốc lại cho hàng cây hương nhu...

Không kỹ lưỡng sao được khi tất cả những cây lá này sẽ được gom góp, chắt lọc lại để làm nên những nén nhang thơm tinh khiết.

Cứ mỗi cuối tuần, khi thì Tây Ninh, lúc Đồng Nai, rồi Củ Chi, Hóc Môn, chị Lê Thiên Bảo (39 tuổi) đều tranh thủ thời gian tìm đến các nhà vườn để đặt hàng trồng cây cỏ làm nhang, rồi kiểm tra chất lượng cây, chất lượng đất để đảm bảo cây được trồng và chăm sóc theo cách tự nhiên và sạch sẽ nhất.

“Cây nhang to bằng ngón tay trỏ”

“Hầu hết hộ gia đình tôi đặt trồng cây đều có ruộng rẫy bên ngoài, họ chỉ trồng thêm dược liệu trong vườn cho vui nên không bón phân, dùng hóa chất gì cả, mình cũng đỡ lo” - chị Bảo nói trong lúc tay vẫn thoăn thoắt xem xét các khóm cây sả, ngửi từng chiếc lá ngải cứu để biết mùi hương thay đổi ra sao khi mùa mưa đến.

Đối với một số cây cần trồng số lượng lớn nhưng khó mọc tốt với khí hậu nóng ở miền Nam như hương thảo, húng lủi (bạc hà), chị lặn lội lên Đắk Lắk tìm đến các nhà vườn trồng rau hữu cơ, không dùng thuốc trừ sâu để đặt hàng họ trồng kèm trực tiếp trong vườn rau.

Tất cả cây lá sau đó được thu gom lại ở xưởng để đưa vào sản xuất nhang thành phẩm. Quá trình làm một mẻ nhang ở đây tốn thời gian gấp ba lần so với thông thường, do từ lá đến nhang đều phải phơi gió (phơi trong bóng râm, không phơi ngoài nắng) thay vì cho vào máy sấy trong tích tắc.

Vì vậy, mọi người ai nấy đều phải trông coi lá cây, bột nhang như chăm con mọn, trời nóng trời mưa một chút là chạy rối rít.

Cây nhang thành phẩm vì thế không có màu vàng ươm như thường thấy, thay vào đó là màu nâu của lá, của hoa khô. Mùi hương của nhang không nồng không đậm, ngược lại rất nhẹ nhàng, ẩn sâu và bột nhang sau khi cháy cũng chỉ là một màu trắng đơn thuần.

Nhang thường làm từ mùn cưa, xơ dừa ướp tẩm hương liệu hóa chất. Vậy ý tưởng làm nhang tự nhiên này đến từ đâu?

Giải thích của chị Bảo rất đơn giản: “Lớn lên ở quê, đất trời rộng rãi nên từ nhỏ tôi đã mê hương thơm cây cỏ, trong cặp lúc nào cũng có mấy lá trầu, lá mận để hít hà. Đi học về thì lăng xăng theo các thầy thuốc nam gần nhà đi hái lá, ngửi mùi, hỏi han riết thì biết, càng biết càng mê. Lớn lên ở lại Sài Gòn làm việc, tìm kiếm hương thơm cây cỏ như dưới quê khó quá, tôi mới nghĩ hay là mình làm nhang để ngày nào cũng có quê nhà kề bên. Vậy là làm thôi”.

Nói thì dễ, nhưng chặng đường làm ra cây nhang cũng muôn trùng khó khăn. Chưa từng làm nhang, càng không muốn đi theo lối làm nhang từ mùn cưa, xơ dừa như mọi người, chị Bảo bắt đầu từ chính cây cỏ trong vườn quê mình.

Cuối tuần, vừa kết thúc công việc ở công ty, chị chạy xe máy cả trăm cây số về quê ở Tây Ninh, gom góp lúc thì hai ba ôm lá thơm, khi thì chục bao cây hương nhu chở lên thành phố. Sau đó, một mình chị tự hì hụi hong khô tất cả hoa, lá, rễ, rồi đẽo, chặt, xay chúng thành bột nhang và cuối cùng là tự đạp máy làm nhang mini để cho ra từng cây nhang.

Đôi tay vốn chỉ quen cầm viết dần trở nên chai sần, chi chít vết sẹo ngang dọc, phòng làm việc vốn chỉ toàn giấy tờ, sách vở nay thay thế bằng hàng chục chai lọ dán nhãn hương thơm, công thức, nhưng chị Bảo lại rất hồ hởi: “Trời phú cho mình cái mũi rất nhạy với mùi hương nên làm việc với hương thơm không có gì quá vất vả cả, ngược lại còn thấy rất vui!”.

Đợt nhang đầu tiên, “cây nhang to bằng ngón tay trỏ, mùi thì y như lá đốt chứ không thơm mùi nhang gì hết” - chị Bảo kể. Nhưng không nản lòng, người phụ nữ bé nhỏ này vẫn kiên trì với cây nhang, bám trụ phòng thí nghiệm suốt sáu tháng để có được cây nhang với mùi hương ưng ý nhất đầu tiên.

Chị Sâm Cầm (đồng nghiệp của chị Bảo) cho biết: “Thời gian đó, chúng tôi ít gặp được chị Bảo vì hầu hết thời gian rảnh chị đều ở trong phòng nghiên cứu cách làm nhang, điều mà ai nấy đều thấy rất ngạc nhiên vì lúc đó chị đang có một công việc ổn định với chức vụ cao.

Nhưng khi chị hân hoan gọi chúng tôi đến, cùng ngửi những sợi khói hương đầu tiên chị làm nên, tôi hiểu rằng có những câu hỏi tại sao không cần câu trả lời, tất cả đều “vì yêu mà được sinh ra” thôi”.

 

nguyen-lieu-dinh-lang

Niềm vui của người đưa hương

Làm được nhang từ cây cỏ rồi, chị Bảo lại nghĩ đến cách làm sao đưa công thức chữa bệnh từ các loại lá thuốc vào cây nhang để người dùng thấy khỏe mạnh hơn khi sử dụng mỗi ngày. Chị chia sẻ ý tưởng này với lương y Lê Trung Kiên, phụ trách phòng thuốc nam Tuệ Tĩnh Đường ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, và nhanh chóng nhận được sự đồng thuận.

Ông Kiên cho biết: “Lúc chị Bảo nói, tôi thấy ý tưởng này rất hay. Trước giờ nghe nói đến cây thuốc, người ta chỉ nghĩ đến nấu uống, ngâm hoặc xông, không ai nghĩ tới chuyện cây nhang mình đốt mỗi ngày cũng có thể giúp nhà cửa thanh sạch, dễ chịu và đường hô hấp của mình tốt hơn.

Vậy nên tôi cũng thử nghiên cứu, bắt đầu từ công thức chữa nhức đầu, sổ mũi với cam thảo, trần bì... nhưng điều chế ít tinh dầu để đỡ cay mắt, thêm vào đó vài loại thuốc đuổi muỗi, diệt côn trùng nữa”.

Mất khoảng một tháng trao đổi qua lại, một công thức mùi hương vừa không quá nặng vị thuốc, vừa có tác dụng tốt cho sức khỏe đã ra đời. Tiếp sau đó là mộc hương với lá đinh lăng làm nguyên liệu chính do chị Bảo tự điều chế...

Ròng rã suốt ba năm, tìm cách giải quyết từ vấn đề gầy dựng vườn dược liệu đến liên hệ các cơ sở sản xuất nhang riêng cho cây nhang sạch này, đến nay nhang Núi Bà Đen của chị Bảo đã dần được nhiều người biết đến với mức giá từ 25.000-38.000 đồng/bó 50 cây.

Bà Tâm, chủ một cơ sở làm nhang nhận sản xuất nhang tự nhiên của chị Bảo ở Củ Chi, nói: “Trước đây làm nhang nghĩa là từ thân nhang vàng tới chân nhang đỏ đều nhúng hóa chất nên ai cũng sợ, nhưng làm nhang của cô Bảo thì đỡ hơn hẳn vì bột nhang từ lá cây, ngay cả keo nhang cũng từ vỏ cây bời lời nên tôi tự kéo máy về làm ngay trước sân nhà cũng không bị bệnh tật gì cả”.

Bên cạnh nhu cầu thờ cúng, nhang của chị Bảo đặc biệt bán chạy ở phân khúc khách hàng trẻ, làm việc ở văn phòng và thường xuyên tập yoga, thiền.

Chị Lê Thị Thanh Nga, một nhân viên văn phòng, cho biết: “Tập yoga rất cần nhang tinh khiết, ít khói ít mùi nồng nặc, có tác dụng tốt cho sức khỏe vì mình dùng mỗi ngày. Trước đây tôi cũng có thử một số loại nhang khác nhưng một là nặng mùi thuốc bắc, hai là có mùi hóa chất, đến loại này mới tạm yên tâm vì giống hệt mùi nhang tự nhiên hồi xưa mình hay ngửi được dưới quê”.

Đến nay đã có khoảng mười nơi phân phối chính thức nhang của chị Bảo, chủ yếu tại TP.HCM, đồng thời bột nhang của chị cũng bắt đầu được các đối tác nước ngoài ưa chuộng, đặc biệt tại các nước như Ấn Độ, Myanmar, Nhật Bản.

Chị Bảo cho biết: “Các khách hàng này thường mua bột nhang với số lượng lớn về sản xuất lại theo kiểu dáng nhang riêng của nước họ. Đa số khách đều cho biết họ chuộng loại bột nhang này vì làm từ nguyên liệu lá cây. Nước họ có rất nhiều loại nhang với nhiều mùi hương khác nhau, nhưng chủ yếu là do điều chế hóa chất mà ra, làm từ thiên nhiên không còn nhiều nữa”.

Dù đã có thành công bước đầu, chị Bảo vẫn không ngừng nghiên cứu những loại nhang mới trong căn phòng nhỏ của mình, từ cách làm thế nào để sản xuất được nhang vòng đến cách làm sao cho nhang cháy được lâu hơn, bền hơn...

“Nếu nhang này bán được nhiều, được nhiều người yêu thích, tôi sẵn sàng chia sẻ công thức làm nhang lại cho nhiều nơi khác cùng làm, vì cái đích cuối cùng của mình là làm sao phát triển được các vùng thảo dược Việt Nam. Cây cỏ của đất nước mình tuyệt vời lắm, đẹp từ hương thơm đẹp đi, bỏ phí thì uổng biết bao nhiêu!” - chị tâm sự.

huong-dinh-lang

 

Nguồn: Đoàn Bảo Châu (TTCT)

Nghề làm nhang quế ở phố xưa Thu Xà

 

Từng là thương cảng tấp nập một thời, giờ đây phố xưa Thu Xà, huyện Tư Nghĩa (Quảng Ngãi) còn lưu giữ nhiều ngành nghề truyền thống. Trong đó nghề làm nhang quế phát triển mạnh, mang lại thu nhập cao cho người dân.

Theo sách Đại Nam nhất thống chí, Thu Xà từng là thương cảng lớn ở vùng Trung Trung bộ, chỉ sau Hội An (Quảng Nam). Nhờ bàn tay khéo léo, tài hoa của người dân, nơi đây đã hình thành nhiều nghề thủ công truyền thống nổi tiếng như dệt chiếu cói, nhang quế..

 

huong-que-Quy-Sinh

Nguyên liệu làm nhang gồm tăm, bột cây quế, bột keo... Tùy theo cách pha trộn mà tạo ra những mùi hương thơm đặc biệt khác nhau. Tùy theo số lượng nhân công, mỗi ngày có gia đình sản xuất đến 10.000 cây nhang quế. Riêng tháng Chạp, mỗi gia đình ở xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa làm nhang Tết thu nhập 10 - 15 triệu đồng.

Nén nhang làm xong được đem phơi trên những chiếc phên, nắng gió sẽ làm hương khô, sắc đẹp giữ nguyên mùi thơm. Theo nhiều dân, trời nắng thì phơi nhang quế một ngày, tiết trời râm phải phơi 2 - 3 ngày thì thân cây nhang mới khô chắc.

Ông Huỳnh Văn Dũng, Chủ tịch UBND xã Nghĩa Hòa cho biết, toàn xã có hơn 600 hộ với gần 2.500 lao động làm nhang quế. Nhang được sản xuất quanh năm nhưng cao điểm nhất vẫn là tháng Chạp trước dịp Tết Nguyên Đán. Ngoài việc lưu giữ nghề của bậc tiền nhân, các cơ sở sản xuất nhang còn tạo công ăn việc làm ổn định cho hàng nghìn lao động, góp phần phát triển kinh tế - xã hội.

Nguồn: Trí Tín - Vnexpress.net

Cây trồng phụ, thu nhập chính ở Thanh Chương

 

Thanh Chương hiện có hơn 1.800 ha cao su đang trong thời kỳ kiến thiết cơ bản. Vì vậy, trong thời gian chờ khai thác mủ, mô hình trồng xen các loại cây ngắn ngày như cây rễ hương, các loại họ đậu lạc.. là phương án tối ưu đang được người công nhân lựa chọn nhằm nâng cao thu nhập trên cùng một đơn vị diện tích, vừa duy trì và phát triển cây công nghiệp dài ngày một cách bền vững.

Sau nhiều vụ thử nghiệm, các hộ đội viên nông trường TNXP2 Thanh Đức, Thanh Chương đã tìm ra loại cây trồng xen dưới tán cao su hiệu quả nhất. Đó là trồng cây rễ hương, cung cấp cho các cơ sở làm hương. Năm 2014, gia đình chị Nguyễn Thị Bảy ở xã Thanh Đức nhận 10ha của nông trường để trồng cây cao su. Để tận dụng diện tích đất trống khi cao su chưa phát tán, chị đã đầu tư trồng xen 3 ha cây rễ hương.

Theo chị Bảy, việc trồng xen dưới tán cao su sẽ tạo điều kiện nâng cao độ tơi xốp, giữ ẩm cho đất, sạch cỏ, nên cây cao su phát triển tốt. Hơn nữa việc trồng xen cây rễ hương dưới tán cao su đã đem lại nguồn thu nhập chính cho gia đình chị khi cây cao su chưa cho mủ.

 

"Loại cây này rất thích hợp với chất đất và khí hậu ở đây nên tôi chẳng cần nhiều công chăm bón cây vẫn phát triển mạnh. Từ năm 2014 đến nay, từ trồng rễ hương gia đình tôi thu về 90 triệu đồng. Từ nguồn thu này, gia đình tôi có thêm tiền để trang trải cuộc sống, lại có chi phí đầu tư cho cây cao su hàng năm.. Số diện tích trồng cao su còn lại chưa trồng xen, hiện nay, tôi đang trồng lạc thử nghiệm. Qua vụ thu hoạch vừa rồi, cho thấy năng suất cây lạc rất vượt trội, hơn nữa lại cải tạo, tăng độ màu mỡ cho đất"...  Chị Bảy chia sẻ thêm.

Qua trao đổi, các hộ công nhân ở đây cho biết trồng cây rễ hương không khó bởi thích hợp với đất đồi lại có thể trồng xen vườn cây ăn quả và nhất là cây cao su. Chỉ cần cuốc hố sâu 20-30 cm cho một ít phân NPK, sau 3 tháng vun gốc bón thêm một lần phân là cây phát triển tốt. Sau một năm khóm cây nhiều và già thì thu hoạch. Khi thu hoạch chặt bỏ phần lá, còn lại cây và rễ có thể bán tươi với giá hiện tại 7 nghìn đồng/kg

Ông Phạm Văn Hiếu- Giám đốc Nông trường TNXP 2 cho biết thêm: “Hầu hết các hộ công nhân ở đây đều được khuyến khích trồng xen thêm các loại cây như rễ hương, khoai, đậu các loại để tăng thêm thu nhập. Nông trường chúng tôi hiện có 800 ha cao su trong thời kỳ kiến thiết cơ bản thì có trên 50 ha được công nhân trồng xen cây rễ hương, bình quân mỗi ha cũng cho thu lãi từ 40- 45 triệu đồng/năm. Hiện nay chúng tôi đang động viên công nhân tiếp tục đưa các loại họ đậu lạc vào trồng xen nhằm lấy ngắn nuôi dài, tăng thu nhập. Việc trồng xen không chỉ chống xói mòn đất, tăng độ che phủ mà giúp người công nhân giảm công chăm sóc giữa hàng, không phải mất công phát sẻ thực bì, dọn cỏ cho cây cao su như trước đây”.

 

giong huong bai

 

Dù chỉ là trồng xen nhưng cây rễ hương đã đem lại nguồn thu nhập chính trong thời kỳ cây cao su chưa cho mủ. Hiệu quả từ mô hình này giúp người công nhân có điều kiện gắn bó lâu dài với cao su. Có thể nói, mô hình trồng cây rễ hương dưới tán cây cao su đã mở ra một hướng đi mới, giải quyết việc làm tại chỗ, nâng cao thu nhập, góp phần giảm nhanh tỷ lệ đói nghèo, nâng cao nhận thức bảo vệ tài nguyên, sinh thái rừng bền vững./.

Tác giả bài viết: Hiến Chương

Nguồn tin: Truyền hình Nghệ An

Dân Quyết thắng khá giả nhờ nghề làm hương

 Chỉ là nghề phụ nhưng đưa lại thu nhập khá cho người dân Quyết Thắng, xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch (tỉnh Quảng Bình), đặc biệt vào mỗi dịp Tết. Nhiều hộ gia đình đã hoát nghèo và vươn lên làm giàu.

Đến Quyết Thắng vào một ngày đầu năm, trong từng cơn gió lạnh, mùi hương dịu ngọt mà ấm áp của cây hương nơi đây như hòa quyện vị Tết, mang khí xuân về gần hơn trong từng nếp nhà, ngõ xóm.

 

huong-tram---Huong-bai

Rễ cây trầm rẽ quạt (rễ hương bài) có mùi hương dễ chịu và giúp giảm căng thẳng. Ảnh: vinacorp

 

Vừa đến đầu làng, mùi hương trầm phảng phất từ những bó hương phơi giữa trời xuân. Ông Lưu Đức Huấn, Phó Chủ tịch UBND xã Thanh Trạch cho hay, nghề làm hương (nhang) ở đây có từ 300 năm nay. Những ngày đầu, họ chỉ biết làm nhang bằng lá hương reng mọc trên núi.

Qua thời gian, kỹ thuật làm hương của người dân thôn Quyết Thắng ngày một tiến bộ, kỹ thuật quấn hương cũng được cải tiến và hoàn thiện dần nhằm đáp ứng nhu cầu và thị yếu ngày càng cao của người mua.

Đặc biệt, sau này bà con đã biết kết hợp lá hương reng với rễ cây trầm rẽ quạt để tạo nên loại nhang trầm thơm mùi đặc trưng của địa phương. Rễ cây trầm rẽ quạt có mùi hương dễ chịu, giúp giảm đau đầu, căng thẳng và có thể đuổi được muỗi nên an toàn với người dùng.

Chính vì điều này nên những cây hương được sản xuất từ thôn Quyết Thắng còn được bà con gọi là hương trầm Quyết Thắng hay hương trầm rẽ quạt Quyết Thắng.

Thôn Quyết Thắng hiện có trên 500 hộ dân thì đã có hơn 300 hộ có nghề làm hương trầm. Mặc dù chỉ là nghề phụ nhưng đưa lại thu nhập khá cho người dân, đặc biệt vào mỗi dịp Tết. Nghề làm hương trầm cũng giúp nhiều hộ gia đình thoát nghèo và vươn lên làm giàu.

Gia đình chị Phan Thị Hương là một trong những hộ làm hương trầm có quy mô lớn, cung cấp sản phẩm quanh năm của làng. Chị Hương cho biết, việc làm hương trầm đã mang lại thu nhập khá cao cho gia đình.

Những tháng bình thường trong năm, cơ sở làm hương của gia đình thu khoảng 10- 15 triệu đồng/tháng, đến vụ Tết thu khoảng 30-40 triệu đồng/tháng. Từ việc làm hương đã góp phần cải thiện đời sống, nâng cao thu nhập cho gia đình.

Toàn bộ hương ở làng nghề hương Quyết Thắng đều sản xuất bằng phương pháp thủ công. Để làm ra một bó hương phải trải qua nhiều công đoạn như: chẻ và phơi tre; chuẩn bị lá hương reng và rễ cây trầm rẽ quạt, phơi khô rồi tán thành bột; trộn bột nhang; nhồi, nhúng, lắc hương; phơi khô và đóng gói.

Với người dân làng, từ đứa trẻ cho đến những cụ già, ai ai cũng thuộc nằm lòng quy trình sản xuất loại hương trầm mang mùi thơm đặc trưng này.

Theo các hộ sản xuất ở đây, một trong những công đoạn sản xuất mang lại nét khác biệt đặc trưng cho hương trầm Quyết Thắng ở chỗ cây hương sẽ được quấn, nhúng bằng hai lớp hương reng ở trong, bao ở ngoài là bột của rễ cây trầm rẽ quạt. Chính điều này làm cho hương cháy đều, chậm và tỏa hương thơm dịu nên được nhiều khách hàng ưu tiên dùng.

Sau Tết cổ truyền, người dân đã đi thu mua nguyên liệu (gồm hương lá reng, rễ cây trầm rẽ quạt, tre, bột sắn...) về sơ chế.

Tuy nhiên, hiện nay, lá hương reng và rễ cây trầm trên địa bàn xã ngày càng khan hiếm nên đa số bà con đều nhập mua nguyên liệu từ các nơi khác đưa về, chủ yếu là ở huyện Tuyên Hóa (Quảng Bình) và tỉnh Thừa Thiên Huế.

Ba tháng cuối cùng của năm là chính thức bước vào vụ sản xuất hương Tết. Những ngày nắng đẹp, người dân lại tấp nập nhúng hương, lăn bột, phơi khô để đóng gói.

Làm hương là công việc nhẹ nhàng không đòi hỏi nhiều sức khỏe nên các thành viên trong gia đình đều có thể tham gia. Nhà nhà từ già đến trẻ đều tất bật với các công đoạn làm hương, sẵn sàng cho chuyến hàng cuối năm.

Đa số các gia đình đều tập trung làm hương trong vụ Tết, nhà ít nhân lực thì làm khoảng 10.000 đến 20.000 cây/tháng, nhà làm nhiều có thể đến 70.000 cây hương/tháng.

Các hộ làm hương trầm trong thôn cho biết, nếu gia đình tự đi lấy được nguyên liệu thì có lãi khoảng 50%, còn không có nhân lực, mọi nguyên liệu đều phải mua thì lãi khoảng 20%.

Hiện nay, hương trầm Quyết Thắng của xã Thanh Trạch không chỉ có mặt ở hầu khắp các thị trường trong tỉnh Quảng Bình mà còn vươn ra các tỉnh khác như Hà Nội, Thanh Hóa, Tp. Hồ Chí Minh... Trên thị trường, giá mỗi cây hương trầm Quyết Thắng được bán từ 500 – 1.500 đồng/cây tùy kích thước ngắn, dài.

Theo ông Lê Văn Rạn, Trưởng thôn Quyết thắng, hương trầm là hương vị không thể thiếu trong gia đình mỗi người dân Việt vào dịp Tết cổ truyền của dân tộc. Những ngày Tết, mỗi gia đình có thể tiêu thụ từ 200-400 cây hương trầm.

Cây hương trầm Quyết Thắng được làm từ những nguyên liệu tự nhiên nên ảnh hưởng đến sức khỏe của người dùng. Hương trầm Quyết Thắng có mùi thơm đặc trưng, khác với hương trầm những vùng khác, đó là mùi thơm dịu ngọt, ấm cúng và vui vẻ chứ không trầm buồn.

Cuối năm 2015, Hội đồng công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống do UBND tỉnh Quảng Bình tổ chức đã công nhận làng nghề sản xuất hương trầm Quyết Thắng của xã Thanh Trạch. Đây là một vinh dự lớn, tạo sự phấn khởi đối với người dân làng nghề nói riêng và địa phương nói chung.

Hơn 40 năm trong nghề, mặc dù tuổi đã cao nhưng ông Phan Văn Tu (63 tuổi) vẫn miệt mài gắn bó với nghề làm hương trầm truyền thống của ông cha để lại. Dù mắt đã mờ và đôi tay cũng đã yếu nhưng trong mỗi công đoạn làm hương quen thuộc, ông Tu vẫn tỷ mẩn, cẩn thận, nhanh nhẹn và thành thạo trong từng thao tác.

Ông Tu cho biết, ngay từ nhỏ đã được cha mẹ dạy cách làm hương nên mỗi công đoạn, thao tác như ăn sâu vào máu thịt. Với gia đình, nghề làm hương tuy là nghề phụ nhưng các thế hệ trong nhà vẫn duy trì đến ngày nay; tranh thủ làm mỗi lúc rảnh rỗi, nông nhàn nhằm lưu giữ nét văn hóa truyền thống của nghề mà cha ông để lại.


huong-bai-thom-tu-nhien

Với nguyên liệu chế biến hoàn toàn từ thiên nhiên, không chất độc hại thì hương trầm Quyết Thắng được xem là lựa chọn đáng tin cậy đối với người tiêu dùng.

Tuy nhiên, hiện nay, các sản phẩm của làng nghề chưa có nhãn mác, thương hiệu, khi xuất bán mới chỉ bọc trong bao ni lông, giấy báo thủ công nên chưa thu hút người mua. Chỉ những người quen biết, dùng một lần thấy mùi hương dễ chịu, cháy đượm và được lâu mới mua thường xuyên.

"Chính quyền địa phương cũng đã tích cực vận động, tuyên truyền bà con thôn Quyết Thắng gìn giữ và phát triển làng nghề hương trầm; phấn đấu xây dựng thương hiệu để hương trầm Quyết Thắng tiếp cận gần hơn với người tiêu dùng và có cơ hội vươn ra thị trường ngoài tỉnh; có kế hoạch chiến lược phát triển mang tính lâu dài và bền vững cho làng nghề." - ông Lưu Đức Huấn, Phó Chủ tịch UBND xã Thanh Trạch chia sẻ.

Làng nghề hương trầm Quyết Thắng đang khẩn trương hoàn thành sản phẩm, sẵn sàng phục vụ thị trường những ngày cuối năm. Những cây hương trầm Quyết Thắng, xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình sau khi hoàn thiện cũng hối hả đón những chuyến xe ra Bắc vào Nam để kịp tỏa hương thơm trong các gia đình vào ngày Tết dân tộc, mang Xuân về với đất trời.

Phảng phất trong làn khói thơm nồng, dịu ngọt của hương trầm Quyết Thắng là những nỗi niềm, hy vọng và tin tưởng về một năm mới đủ đầy, bình an của mỗi người dân hồn hậu, rất đỗi mộc mạc trên mảnh đất đầy nắng và gió này./.

 

Nguồn: Võ Dung/TTXVN

Tục dâng hương P2

 

Mỗi lần, trước khi hành lễ ở các chùa, vị chủ lễ thường chắp tay cầm ba nén nhang dâng lên trên trán và đọc thầm bài kệ niệm hương: Nguyện đem lòng thành kính, gởi theo đám mây hương, phưởng phất khắp mười phương, cúng dường ngôi Tam Bảo, Thệ trọn đời giữ đạo, theo tự tánh làm lành, cùng pháp giới chúng sanh, cầu Phật từ gia hộ, tâm bồ đề kiên cố, xa bể khổ nguồn mê, chóng quay về bờ giác. Và chúng ta cũng thường nghe những vần thơ như : lặng lẽ chiên đàn tỏa khói hương, đỉnh trầm xông ngát ý thiền môn, lung linh nến ngọc ngời sao điểm, xóa sạch trần gian hết tủi hờn...những vần thơ này đã giới thiệu về những nét đẹp văn hóa của sinh hoạt tín ngưỡng, sinh hoạt tâm linh và cho chúng ta thấy nghi thức dâng hương là nét văn hóa rất đẹp trong nghi lễ thiền môn.

Tại các tư gia quý Phật tử, việc thắp hương cúng Phật, dâng hương lên bàn thờ ông bà, tổ tiên trong các ngày lễ, ngày giỗ chạp cũng không thể thiếu được.  Những người không theo đạo Phật, họ vẫn thắp nhang để tỏ lòng thành kính với ông bà tổ tiên, trong các lễ tiết như tết nguyên đán, trong những ngày sóc vọng ...

 

tuc-dang-huong-bai

Những điều này đã cho chúng ta thấy dâng hương là một trong những tập tục truyền thống lâu đời trong văn hóa sinh hoạt tín ngưỡng của người Việt nam. Cho dù dòng đời có những thay đổi, cuộc sống có những biến thiên nhưng tập tục dâng hương không bao giờ mất đi, trái lại nó càng mở rộng ở Đình làng Miếu vũ cho đến việc thực thi lễ dâng hương tại các nghĩa trang liệt sĩ để tỏ lòng biết ơn, ghi nhớ công lao của những anh hùng, chiến sinh, anh linh đã hy sinh vì nước vì dân. Tập tục dâng hương là một trong những nét văn hóa đẹp trong nếp sống sinh hoạt tâm linh cho nên  chúng ta cần phải đặc biệt  quan tâm đến.

Thưa quý vị khi trình bày đề tài này, tôi biết trong quý vị sẽ có người bảo rằng: Thắp nhang, đốt hương là một việc làm rất bình thường có gì là quan trọng phải để tâm suy nghĩ, luận bàn? Xin thưa rằng: Dâng hương không chỉ có nghĩa là đốt hương, thắp nhang mà nó còn mang cả một văn hóa và đạo lý, cao hơn nữa nó còn mang ý nghĩa của một quan niệm triết lý vũ trụ và nhân sinh. Nó không phải là một động tác thắp nhang, đốt hương mà nó đã trở thành một tập tục dâng hương có nghi thức, có luật tắc rõ ràng.

Theo định nghĩa trong từ điển tiếng Việt của Minh Tâm - Thanh Nghị :Hương là mùi thơm, vật đốt cho thơm khi cúng, khi nguyện v.v... (Lò trong ngát dạ, đỉnh ngoài bay hương (Nhị độ Mai). Theo Từ điển Phật học Huệ Quang: Hương liệu được tinh luyện từ dầu của những loại cỏ hoặc gỗ thơm, gồm các loại như  Chiên đàn hương, Trầm thủy hương, Đinh tử hương, Uất kim hương, Long não hương. Năm thứ hương này Mật giáo thường sử dụng trong lúc lập đàn. Nếu phân biệt theo cách sử dụng và chế tạo thì có các loại như Đồ hương (hương xoa trên thân), Thiêu hương (hương đốt để xông), Huân hương (hương ướp), Mạc hương (hương bột dùng để rắt nơi đạo tràng và chùa miếu), Hương Thủy (nước hương).

Hương Hỏa: hương và đèn dùng chỉ việc thờ cúng tổ tiên. Lo việc hương hỏa (từ điển tiếng Việt).

Có nhiều người thắc mắc Tại sao thắp hương lại dùng những con số lẻ nén nhang 1,3,5,7, 9 v.v...? Thường thì 3 nén nhang và 2 bàn tay luôn luôn chắp lại và miệng thì lâm râm thầm khấn nguyện? Phải chăng số lẻ là con số tượng trưng cho sự linh thiêng, tượng trưng cho trời vì chiếu theo luật cơ -ngẫu  của dịch lý thì số lẻ thuộc Dương, số chẳng thuộc Âm. Dương tượng trưng cho trời, cho sự linh thiêng, cho vô hình, cho sự trong sạch thanh tịnh, cho sự sinh trưởng phát triển, cho các cõi trên như Tiên, Thánh, Phật....

Con số 3 liên quan đến biểu tượng “ Lưỡng long triều nguyệt” nghĩa là đôi rồng chầu vào một mặt nguyệt ta thường được trang trí trên các bát nhang, lư hương lớn nhỏ ở các nơi thờ tự. Theo dịch lý đôi rồng là tượng trưng của dương, ứng với hai hào dương trong các quẻ kinh Dịch. Còn mặt nguyệt là tượng trưng của âm, ứng với hào âm trong các quẻ. Ở đây hào âm (mặt nguyệt) ở giữa, còn đôi rồng chầu hai phía. Lưỡng Long triều nguyệt cũng chính là biểu tượng của quẻ Ly.

Không những vậy, con số 3 còn  liên quan cả một quan niệm triết học về vũ trụ của người phương Đông: Thiên, Nhân, Địa (Trời, Nguời, Đất) gọi là tam tài. Người xưa rất chú trọng về ý nghĩa Tam Tài, cho nên làm bất cứ việc gì họ đều xét nét tỉ mỉ về Thiên thời, Địa lợi và Nhân hòa nếu thấy đầy đủ ba yếu tố Tam tài thì mới hành sự  và tin tưởng điều ấy sẽ thành công.

Ngày xưa, Lý Thường Kiệt với lời Tuyên Ngôn: Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế Cư đã từng “mượn” y linh của đền thờ Trương Hống, Trương Hát mà khích lệ ba quân tướng sĩ, Chính sử và Dả sử  còn ghi lại những hiện “âm phù”, “báo mộng” của các Thần linh đối với vua chúa đem quân đi chống giặc. Tín ngưỡng niềm tin ấy một khi được giải tỏa nó đã từng có những tác dụng không nhỏ trong cuộc sống của con người, nhiều khi có tác dụng làm lay động cả một cộng đồng.

Tuy vậy, nhưng hiện nay có người không hiểu và cho rằng dâng hương là một trong những hành động mê tín dị đoan, kém văn minh, thiếu khoa học, bởi vì hiện nay Hương chỉ làm bằng mạc cưa, bằng cây v.v… rồi tin tưởng đặt trong lư hương và cho là thiêng liêng. Những hành động ấy đã không lợi ích chi, lại còn nhơ bẩn đến nhà của và hao tốn tiền bạc. Lời này mới nghe qua có lý, nhưng tìm hiểu cặn kẻ nguồn gốc  và ý nghĩa của việc dâng hương thì ta thấy lời nhận định trên đây hoàn toàn sai lầm.

Chúng ta thử tìm hiểu từ đâu mà có tập tục dâng hương?

Theo Phan Kế Bính “Việt Nam phong tục” Đốt hương xuất phát từ Tây Vức. Đốt hương nghĩa là cầu cho quỷ thần giáng cách. Khi xưa tục Tàu tế tôn Miếu chỉ dùng cỏ tiêu (cỏ thơm) trộm với mỡ đốt cho thơm. Đến đời vua Vũ đế nhà Hán, Sai tướng sang đánh nước Hồn Gia (xứ Tây Vức) Vua nước ấy đầu hàng, dâng một thân tượng bằng vàng, Vua Vũ Đế đem tượng về đặc trong cung Cam Toàn để dâng hương Tế lễ . Kể từ đó Tàu mới có tục đốt hương.

Theo Pháp sư Tịnh Không: Đốt hương? Hương đại biểu cho hương tín, đây là một tín hiệu mà người xưa đã dùng rất rộng rãi. Rõ ràng nhất, Nơi Vạn lý trường thành chúng ta thấy cách một đoạn có một phong hỏa đài, phong hỏa đài là đài truyền tin gấp rút. Phong hỏa đài giống như cái lò hương. Người ta dùng lửa đốt phân sói, mật độ của khói phân sói không giống như khói khác, gió không thể thổi tan và duy trì lâu. Ở xa trông thấy chỗ có khói thì biết rằng chỗ kia có biến cố, đây là cách truyền tin gấp của người xưa. Việc đốt hương để truyền tin gấp đến chư Phật và Bồ tát khiến cảm ứng đạo giao cũng xuất phát từ ý niệm truyền tin kiểu này.

Đạo Phật đã được truyền bá vào Việt Nam từ  những thế kỷ trước công nguyên, Văn hóa Phật giáo  hòa quyện cùng văn hóa bản địa đã tạo ra một Văn hóa tín ngưỡng rất đặc thù. Tập tục dâng hương theo quan điểm của Phật giáo, Hương thắp lên vừa đạt được ý nguyện tâm linh dâng mùi thơm và chuyển lời cầu nguyện lên ngôi Tam bảo chứng minh, vừa để biểu hiện chính tâm hướng tới điều thiện.

Khi đốt hương cúng Phật chúng ta thường đọc những câu mật ngữ như: Hương Yên khiết thể, thông xuất tam giới, ngũ uẩn thanh tịnh, tam độc liễu nhiên.  Trong lúc cầm ba nén nhang vị chủ lễ xướng to bài kệ: Thử nhất biện hương, bất tùng thiên giáng, phi thuộc địa sanh.  Lưỡng nghi vị phán chi tiên, căn nguyên sung tắc tam giới, nhứt khí tài phân chi hậu. Chi diệp biến mãn thập phương. Siêu nhật nguyệt chi quang hoa, hàm sơn xuyên chi tú lệ. Tức giới tức định tức huệ. Phi mộc phi hỏa phi yên. Thâu lai tại nhứt vi trần. Tán khứ phổ châu sa giới. Ngã kim nhiệt hướng lư trung, đoan thân cúng dường. Thập phương thương trú tam bảo, sát hải vạn linh, tất trượng chơn hương, đồng quy chơn tế.

(Mông Sơn Khoa Nghi)

Chúng ta lắng lòng khi đọc những câu như vậy với những phút giây thanh tịnh, sẽ thẩm thấu được sâu sắc ý nghĩa dâng hương: Hương ở đây chẳng phải là những vật liệu là bằng mạt cưa, chẳng phải là lửa là khói và Hương cũng chẳng phải là mùi thơm, vật đốt cho thơm khi cúng. Mà Hương ở đây chính là ngũ phần hương. Giới hương là Định hương, Huệ hương, giải thoát và giải thoát Tri Kiến hương, dâng lên cúng dường mười phương chư Phật,chư Hiền Thánh, thể hiện  lòng  thành kính của chúng ta.

Tích xưa, có một đồng tử sau khi nghe lời đức Phật dạy thực hành các phương thức quán các pháp hữu vi. Đồng tử bèn lẳng lặng tu tập. Một hôm nhân thấy quý thầy Tỳ kheo đốt hương trầm thủy mùi hương ngào ngạt, khói tỏa lan vào mũi. Đồng tử quán mùi thơm: Không màu, không sắc, không trong không ngoài, không đến không đi, không phải không, không phải có.....nhơn đó tỏ ngộ lý chơn thường đắc quả A La Hán, Phật liền ấn chứng cho đồng tử với danh hiệu Hương Nghiêm. Để ca ngợi hạnh quả của Hương Nghiêm, Tổ Từ Vân có làm bài nguyện Tán hương sau đây:

Tâm nhiên ngũ phận, phổ biến thập phương

Hương yên Đồng tử ngộ chơn thường

Tỉ quán thiệt nan lường

Thoại ái tường quang

Kham hiến Pháp trung Vương

Nam Mô Hương Vân Cái Bồ Tát.

Nghĩa:

Hương lòng năm món biến khắp mười Phương

Hương Đồng Tử (nhơn khói) tỏ lý chơn thường

Diệu lực của mũi thật không lường

Sáng tốt đẹp lành quý như ngọc Khuê – Bích

Xin dâng cúng dường đại Pháp Vương.

Cúng kính dâng mây hương khắp (lợi lạc) Giác Hữu Tình.

Trong Kinh Pháp cú đức Phật dạy: “Không một hương hoa nào, bay ngược chiều gió thổi, chỉ hương người đức hạnh bay ngược gió bốn phương”.

Giới Hương: muốn trở thành người đức hạnh trước hết chúng ta phải giữ giới, Chúng ta phải sống một đời sống trong sạch. Chúng ta phải làm việc để nuôi sống bản thân bằng một nghề nghiệp chân chánh, chúng ta phải siêng năng tinh tấn làm lành lành dữ và không bao giờ lừa dối gạt gẫm thiên hạ bằng những lời vọng ngôn, ỷ ngữ, lưỡng thiệt và ác khẩu. Làm được như thế, hương thơm đức hạnh và đạo đức  của chúng ta sẽ tỏa sáng và lan rộng.

Định Hương: Nhờ giữ giới mà tâm chúng ta được an định nghĩa là trong lúc tu tập để đạt được thanh tịnh hoặc để giải quyết một vấn đề gì đó trong sự nghiệp ở đời cũng như hạnh nguyện giải thoát trong đạo, chúng ta phải gom thân khẩu ý chúng ta vào một định hướng của chánh tư duy và chánh kiến. Hay nói một cách dễ hiểu hơn chúng ta phải sáng suốt, tỉnh táo để giải quyết mọi vấn đề. Làm được như vậy chúng ta sẽ thành công và đạt được  năng suất và hiệu xuất của việc làm, đó là ý nghĩa của định hương.

Huệ Hương: Là ánh sáng mầu nhiệm của tâm linh, khi có định kiên cố thì tâm trí sẽ bừng sáng. Hằng ngày định tâm tu tập một pháp môn, quán chiếu suy xét mọi việc, hiện tượng trên nền tảng chánh pháp như nhân duyên sanh, vô thường, vô ngã, hoan hỉ, xả ly. Bền bỉ lâu ngày ta sẽ đạt được tâm thái an nhiên giải thoát. Ứng dụng hữu hiệu chánh pháp làm cho nhận thức ta sáng tỏ như chánh pháp, không bị tham sân si tập khí phiền nãoquấy nhiễu. Đây chính là ý nghĩa của Huệ hương.

Giải Thoát hương: giải thoát là một thuật ngữ của Phật giáo được dịch từ Phạn ngữ là mộc đề, mộc xoa nghĩa là rời bỏ mọi sự trói buộc mà được tự tại, cởi bỏ sự trói buộc của hoặc nghiệp, thoát ra khỏi khổ quả của tam giới. Theo từ điển tiếng Việt của Minh Tân - Thanh Nghị - Xuân Lãm do viện ngôn ngữ Việt Nam ấn hành định nghĩa từ giải thoát như sau: 1) làm cho thoát khỏi sự giam hãm, ràng buộc hay bế tắc, giải thoát được những ý nghĩ nặng nề. 2) thoát khỏi mọi điều đau khổ trên cuộc đời. Muốn được giải thoát ta phải vâng lời Phật dạy tu tập theo tam vô lậu học. Nhân giới sanh định, nhân định phát huệ. Bởi vì Giới Định Huệ là 3 môn học chi phối toàn bộ giáo pháp giải thoát của Đức Phật và luôn luôn đòi hỏi ở năng lực hành trì thâm hậu của tất cả Phật tử chúng ta. Làm được điều đó tâm hồn chúng ta sẽ phơi phới hạnh phúc, tràn đầy niềm vui và đem lai sự an lạc giải thoát đến với mọi người. Đây là ý nghĩa Giải Thoát hương.

Giải Thoát Tri Kiến Hương: Tri kiến là sự nhận định, nhận thức của con người. Ở đời có những sự kiện xảy ra thường không đúng sự thật vì chủ quan con người ấn định. Cùng một sự kiện, nhưng quan niệm của mỗi người nhận định mỗi khác, đó là do chủ quan của con người. Do sự thương ghét của chúng ta tác động vào sự tin tưởng của chúng ta cho nên khi bị cảm giác kích động con người sanh ra chủ quan, mà chủ quan theo danh từ Phật học gọi là tri kiến hay kiến trược. Khi đã bị chủ quan thì không bao giờ có nhận xét đúng. Bởi vậy, người ta phải tránh chủ quan, bởi vì chủ quan là nguồn gốc lôi kéo chúng ta đi vào những nhận xét sai lệch. Nên tránh được chủ quan cũng chính là giải thoát tri kiến thì ta sẽ trở thành một người đức hạnh gọi là giải thoát tri kiến hương. Ngược lại ta không giải thoát được tri kiến thì chúng ta sẽ gặp nhiều hối hận sau khi đã thất bại, Nội dung những vần thơ sau đây sẽ minh chứng cho sự thật hiển nhiên đó:

Nghi ngút đầu gành tỏa khói hương

Miếu ai như miếu vợ chàng Trương

Ngọn đèn dầu tắt đừng nghe trẻ

Làn nước chi cho lụy đến nàng

Chứng quả có đôi vầng nhật nguyệt

Giải oan chi mượn đến đàn tràng

Qua đây mới biết nguồn cơn ấy

Khá trách chàng Trương khéo phủ phàng.

Vua Lê Thánh Tôn ngẫu hứng sáng tác bài thơ này khá súc tích với  những ý tưởng thành thật trong một dịp đi ngang qua bờ sông Hoàng Giang thuộc huyện Nam Xương (tỉnh Hà Nam) trông thấy một ngôi Miếu tỏa khói hương nghi ngút ở đầu gành hỏi ra mới biết nơi đây đã xảy ra một câu chuyện hết sức thương tâm:

Người chồng họ Trương đi lính thú lâu ngày. Ở nhà mỗi khi con hỏi “cha đâu” thì vợ lại chỉ bóng mình trên tường và bảo đứa trẻ rằng đó là cha nó. Khi người chồng trở về, đứa bé không nhận ra cha và nói rằng cha nó tối mới đến...Nghi vợ ở nhà ngoại tình, người chồng sỉ nhục vợ và đánh đập, hành hạ vợ một cách tàn nhẫn. Quá uất ức, người vợ nhảy xuống sông để kết liễu cuộc đời. Ít lâu sau, vào một buổi tối, đứa bé bỗng chỉ vào bóng trên tường và bảo rằng cha nó đó. Bấy giờ người chồng mới hiểu ra và lập đàn chay bạt độ giải oan cho vợ.

Câu chuyện trên đã cho chúng ta thấy rõ rằng: Vợ chàng Trương bi oan ức, chính vì sự nhận xét chủ quan của chàng Trương. Nếu chàng Trương bình tĩnh trưng cầu ý kiến của nhiều người tất nhiên sẽ không chủ quan và khám phá ra sự thật, không còn gây oan uổng cho cái chết của vợ mình.

Tóm lại, tập tục dâng hương là một đạo lý truyền thống của dân tộc có từ ngàn xưa, đây là những gia bảo tinh thần đáng quý của tổ tiên để lại cho con cháu kế thừa. Gia bảo này được hấp thụ những tinh hoa của tư tưởng văn hóa Đông phương. Để xác định một lần nữa,  dâng hương không phải là một hành động mê tín dị đoan mà là một truyền thống văn hóa tín ngưỡng của dân tộc, chúng ta không thể quên được nguồn gốc văn hóa Đông phương. Đó chính là một trong những  biểu tượng văn minh của người Á Đông mà các nước Tây phương khó có thể tìm được giá trị tâm linh ấy trong cuộc sống xã hội của họ.

Riêng đối với Phật giáo: Việc dâng hương cúng dường chư Phật mang nhiều ý nghĩa, từ sự hiển lý, không những làm tăng vẻ uy nghiêm, phá tiêu chướng khí nơi đạo tràng, mà còn làm cho tỏ ngộ chơn thường, đạt thể tánh tịnh minh. Người Phật tử chúng ta đã hiểu được ý nghĩa giá trị của việc dâng hương theo quan niệm Phật giáo, hãy cố gắng giữ gìn truyền thống và thực hiện cho kỳ được việc dâng hương cho trang nghiêm và chu đáo, vừa lợi ích cho mình trong việc tu tạo bản thân và giáo đục con em của mình trở thành những con người tài đức vẹn toàn để cống  hiến và xây dựng một xã hội văn minh và hạnh phúc.

Ngày nay, trong xu thế hướng về nguồn cội để giữ gìn và phát huy những truyền thống bản sắc văn hóa của dân tộc thì tập tục dâng hương lại là một trong những đề tài hướng đến Chân Thiện Mỹ để chúng ta suy gẫm và phát huy nhiều hơn nữa những giá trị văn hóa tâm linh cao quý này.

 

Nguồn Tập San Pháp Luân 19

Ý nghĩa của việc thắp hương

 

Khói hương trong tâm linh người Việt

Nghi thức dâng hương là tập quán mà hầu như mọi người dân Á châu bất kể lứa tuổi nào và sống ở nơi đâu đều biết đến. Nén hương đã đi vào đời sống văn hóa, tín ngưỡng của người Việt Nam như một nét đẹp truyền thống, gần gũi và thiêng liêng. Dù không mê tín dị đoan, trong tâm thức mọi người Á Châu đều tin rằng nén hương khi đốt lên, cũng như một nhịp cầu vô hình nối kết hai thế giới hữu hình và vô hình với nhau. Tuy nhiên về mặt tâm linh, có người vẫn còn hiểu một cách mơ hồ, nhất là về ý nghĩa dâng hương theo truyền thống của ông bà. Thậm chí ngày nay có người còn không biết vì sao trong nhà mình có một bàn thờ với những pho tượng, hình ảnh Chư Phật Bồ Tát, thần thánh hoặc tổ tiên. Phải chăng có một “ông” Phật sống ở trên bàn thờ ?

2. Định Nghĩa

Dâng hương là gì?

Dâng có nghĩa là đưa lên một cách cung kính, tiếng Anh gọi là “offering”. Và từ hương có nghĩa là mùi thơm, thông thường là một vật dùng đốt lên để cúng các đấng thiêng liêng, cũng được gọi là nhang và trầm, tiếng Anh là “incense”. Từ incense bắt nguồn từ ngôn ngữ Latin, và động từ incendere - có nghĩa là thắp cháy lên[1].

3. Sự đặc biệt của nén hương đối với quê hương Việt Nam

Chuyện thắp hương trên bàn thờ tổ tiên là một nét đẹp văn hóa truyền thống không thể thiếu trong các dịp giỗ chạp, lễ Tết. Ngày cuối năm đi mua sắm các thứ chuẩn bị cho Tết, không ai không mua vài nén hương về thắp cho ông bà, tổ tiên mình. Nén hương được thắp lên thì mọi người cảm thấy ấm lòng. Nén hương lúc này không còn là thứ hàng bình thường, mà nó đã trở thành một sản phẩm tinh thần không thể thiếu của người dân Việt. Cùng với những phong tục truyền thống khác, nén hương đã góp phần tạo nên và bảo tồn giá trị bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam[2]

Mùi hương là mùi thơm quen thuộc trong nhà hằng triệu triệu người Á châu - là mùi thơm đặc biệt của ngày đầu năm đi chùa lễ Phật. Chúng ta luôn bắt gặp những hình ảnh rất quen thuộc: những cụ ông, cụ bà, nam thanh, nữ tú, tay cầm hương khấn vái cầu mong một năm mới an khang, thịnh vượng, phúc lộc thọ khang ninh... Đây hoàn toàn không phải là hành động mê tín dị đoan, mà là một nét đẹp văn hóa được tồn tại từ rất lâu

4. Lược sử về hình thức đốt nhang

Theo lịch sử ghi lại, việc đốt nhang bắt nguồn từ khoảng năm 3700 BC[3] (cách đây khoảng 5700 năm), từ nước Ấn Độ [4]. Đến năm 618 AD vào đời nhà Tần mới có một vị Tăng[5] đem hương trầm qua Trung Quốc, từ đó hình thức đốt nhang được phát triển mạnh mẽ và hưng thịnh nhất vào đời nhà Minh, sau đó được phổ biến đến khắp các nước láng giềng. Có thể nói hình thức đốt hương phổ biến nhất ở Nhật Bổn, tại đây họ lại chế thêm nhiều cách đốt hương; sản phẩm quen thuộc nhất là nén trầm hình tròn đầu nhọn vào thế kỷ 17 [6], ngày nay vẫn còn dùng. Nhiều tài liệu cho thấy việc đốt nhang đã có từ thời sơ khai. Trong các đền thờ của vua chúa Ai Cập (Ancient Egypt) có rất nhiều những hình vẻ hoặc hình chạm trên tường mô tả nghi thức này.

Ngày nay việc đốt nhang đã trở thành một tập quán trong các ngày lễ hội như Rằm tháng bảy, lễ Vu Lan, Vía Quán Thế Âm, ngày Tết hái lộc đầu năm, Phật đản, và những ngày quan trọng trong gia đình như cúng giỗ, đám tang, đám cưới, ăn tân gia… dùng để cúng những vị như Phật Bà Quán Âm, Đức Mẹ Mary, Ông Bà, Tam Tiên Ông: Phúc Lộc Thọ, Thổ Địa, Táo Quân, Thần Tài…

5. Lợi ích và tác dụng của nén hương

Từ ngàn xưa, khi mới khám phá ra lửa, con người đã bắt đầu phát hiện ra một điều lạ lùng, đó là khi ngọn lửa cháy lên sẽ tỏa ra mùi thơm đặc biệt tùy theo vật liệu dùng để đốt[7]. Người ta đã biết dùng hương đèn để trị bệnh cho thân thể và cả bệnh tâm lý. Khi đốt hương đèn, khói hương nghi ngút tạo nên không khí thanh tịnh, ấm áp và trang nghiêm hoặc tạo không khí trong sạch trong những căn phòng lạnh lẻo của người qua đời hoặc lâm trọng bệnh.

Thông thường, người ta thắp nhang là để khẩn thiết cúi đầu mong tấm lòng thành kính của mình sẽ quyện theo làn khói thơm hướng về cõi thiêng liêng hoặc xông lên tận ngai vàng của Đức Chúa Trời hoặc một đấng nào khác. Do vậy trong kinh Phật mới có bài kệ:

Nguyện đem lòng thành kính, Gởi theo đám mây hương.

Phảng phất khắp mười phương. Cúng dường ngôi Tam Bảo […]

6. Khi thắp nhang nên thắp mấy nén?

Người Việt Nam đã quen chọn số lẻ (1, 3, 5, 7, 9) lúc thắp nhang, nhưng cũng có trường hợp người ta đốt cả nắm nhang chứ không chú trọng vào ý nghĩa con số. Còn theo lý giải của nhà Phật cho rằng, số lẻ mang nhiều ý nghĩa linh thiêng hơn.

Con số 3 thì có nhiều quan niệm khác nhau: đó có thể là

Tam bảo (Phật – Pháp – Tăng),

Tam giới (Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới),

Tam thời (Quá khứ – Hiện tại – Vị lai),

Tam vô lậu học (Giới – Định – Tuệ)

Nén hương, cũng có thêm một ý nghĩa đặc biệt khác nữa, đó là thắp nhang để nhớ đến sự vô thường. Vô thường là từ Hán-Việt, tức là không vĩnh viễn - tất cả đều giả tạm, cho nên lúc nén hương tắt cháy thì cũng tượng trưng cho đời người tắt chắy, ngắn ngủi vô thường như thời gian của nén hương.. tàn tro của hương nhắc nhở chúng ta chớ để thời gian trôi qua, uổng phí tháng ngày.

7. Ý Nghĩa Dâng Hương trong nhà Phật và các tôn giáo khác

Trong nghi lễ Phật giáo, hương là một trong sáu lễ vật dâng cúng, gồm có: Hương, Hoa , Đăng , Trà , Quả , Thực (Nhang, Bông, Đèn, Trà, Trái, Thức ăn). Tuy nhiên nhiều người không rõ về ý nghĩa sâu xa của việc cúng Phật nên bày biện đủ thức ăn uống như yến tiệc, thật là phí của, phí công mà lại còn làm sai lạc ý nghĩa. Không lẽ Phật sẽ lên trên bàn thờ mà ăn từng trái táo, uống từng chung trà sao?

Theo quan niệm của Phật giáo, lòng thành thể hiện qua làn khói hương nghi ngút, không cần cỗ bàn yến tiếc tiệc thịt cá, heo quay linh đình… vì đúng ý nghĩa sự Cúng Phật thì chỉ nên dùng hương thơm, đèn sáng, hoa tươi, trái tốt, nước trong là đủ.[8] Phật không phải ở trên bàn thờ, trong những pho tượng, mà là ở trong tâm của tất cả con người. Ngoài những nén hương dùng ngọn lửa nóng để đốt cháy lên, chúng ta còn có thể dùng đức tin của mình thắp lên những nén Tâm hương- tức là hương từ trong tâm. Bởi vậy mới có năm thứ hương dùng để cúng dường chư Phật: Giới hương, định hương, tuệ hương, giải thoát hương và giải thoát tri kiến hương.

Không chỉ Phật giáo, mà cả các tôn giáo khác như Thiên Chúa giáo cũng dùng hương trong các ngày lễ của mình. Người Thiên Chúa giáo xông hương trong các thánh lễ, trước bàn thờ, trước cuốn Kinh Thánh, mình Thánh, rượu Thánh và cả linh cửu của người đã mất[9]... Trước thời Chúa Giê-su (Jesus), những hương liệu như loại trầm frankincense có giá trị hơn cả vàng bạc châu báu[10]. Đó là vì cổ nhân tin rằng những loài cỏ cây thơm là do chư Thiên ban cho từ trên cao và đã thấm nhuần hương thơm của Đức Chúa Trời.

Có tài liệu ghi rằng, khi Chúa Giê-su giáng sinh, có ba vị vua đem ba thứ châu báu quý nhất trong nước thời đó để dâng lên cho ngài - đó là 1. Vàng, 2. Hương Trầm và 3. Dầu thơm đặc biệt từ rễ cây Myrrh. Điều này chứng tỏ hương trầm từ xa xưa vốn đã được xem như một vật quý giá thiêng liêng. Khói hương hòa vào không khí khiến cho không gian vạn vật xung quanh đều được thơm ngát, ví như tâm hành “Tùy thuận chúng sinh” của các bậc Bồ tát Đại nhân vậy.

Những tôn giáo khác như Ấn Độ giáo (Hinduism) thì lại dùng hương để thư giản và tập trung hơi thở lúc ngồi Thiền. Trong khi đó, dạo Phù Thủy (Wiccanism) dùng hương để trở về với sức sống thiên nhiên để cảm thông với các vị nữ thần như Aphrodite. Trái lại, theo đạo Khổng (Confucianism) thì khói hương tượng trưng cho Đại Trượng Phu - chỉ bay lên chứ không bao giờ lặn xuống.

Hương không có màu sắc nhưng luôn thơm ngát, như câu “Tự tại trong hành xứ, như chim giữa hư không, tìm dấu chân không thấy”[11]. Như mùi hương vô sắc phảng phất thơm lừng, bậc tĩnh lặng sống tự tại giữa đời, đem lại an lạc và lợi ích cho đời nhưng không lưu lại một dấu tích danh sắc nào trên bia ký. Rời khỏi cuộc đời, có chăng chỉ là một khoảng không gian ngát hương: mùi hương của loại hương bay ngược chiều gió!

Ở nhiều vùng thuộc Nam Bộ, người ta còn thắp hương cho từng gốc cây, góc nhà với quan niệm mọi vật đều có đời sống tâm linh của nó, cũng như là để thần thánh, hoặc vong/ hương linh hút vàp sức lực để hiển linh.

Một điều chúng ta phải cần ghi nhớ là mỗi lần dâng hương trước bàn thờ: không những dâng hương bằng tấm lòng thành kính của mình, mà còn phải có chánh niệm, tiếng Anh gọi concentration (sự tập trung). Nên cắm từng nén hương với hai tay và cắm cho ngay thẳng, tượng trưng cho tấm lòng ngay thẳng, mặc cho bão táp phong ba không hền dời đổi, giữ nguyên phong cách của ngừời quân tử tấm lòng trong sạch để lưu lại tiếng thơm với đời tỏa khắp nơi.

Hương trầm, sợi dây nối với thế giới tâm linh

Cứ vào tháng cuối năm, khi mọi người bàn tán về việc sắm tết, làm tôi nhớ lại lúc bé khi còn ở quê được mẹ cho đi chợ huyện sắm hàng tết là thích lắm. Thế nào tôi cũng đòi được mẹ mua cho đủ thứ, nào pháo dây, con tò he, và một vài thứ khác nữa....

Những lần ấy, trước khi đi chợ bà tôi thường dặn mẹ:”Mẹ cái gái đi chợ nhớ mua bó hương trầm nhé”. Bà tôi vẫn thường nói;” Ngày tết thiếu thứ gì cũng được nhưng nhất thiết phải có bánh chưng và nén hương thơm để cúng tổ tiên , ông bà”. Bây giờ bà tôi không còn nữa, tôi cũng đã thoát ly ra Hà Nội. Nhưng mỗi dịp về thăm quê, nhất là vào dịp giỗ, tết bao giờ ngoài bánh mứt tôi cũng nhớ mua vài bó hương trầm về và thành kính dâng lên ban thờ và thắp những nén hương thơm ngát. Tôi có cảm giác nén hương trầm toả ra mùi thơm ngào ngạt như sợi dây máu thịt nối liền giữa người đang sống với vong linh những người đã khuất. Đúng như câu ca dao:

“Vẫn còn đây những lời ru

Vờn bay phảng phất cho dù tháng năm

Tổ tiên một nén nhang trầm

Nối dòng máu đỏ âm thầm thiết tha”.

Cũng như một số vật dụng khác, tưởng chừng rất nhỏ bé, nhưng không thể thiếu được trong đời sống của chúng ta. Hương trầm cũng là một thứ nằm trong số đó, nhất là trong đời sống tâm linh của người dân Việt nam dù đang sống tại quê hương hay ở nơi xa sứ trên đất khách quê người.

 

Hương thơm đặc trưng của khói trầm

Hương là thứ mà nhà nào cũng thường dùng, trong những ngày giỗ ,tết hay lễ hội ngày một, ngày rằm hàng tháng, nó không thể thiếu được. Nhưng tôi tin rằng, sẽ rất ít người trong chúng ta quan tâm tìm hiểu về nguồn gốc nén hương đó có từ đâu, bao giờ và làm như thế nào, bằng gì ? Vậy chúng ta cùng nhau làm cuộc tìm hiểu nhỏ về nén hương nhỏ bé ấy.

Tìm đến hiệu hương Đồng tiến của cụ Đức Ngọc ở số 10 phố Hàng khoai, Hà nội - Một trong số rất ít những nhà làm hương gia truyền nổi tiếng còn lại ở Hà nội ngày nay. Cụ Đức Ngọc nay tuy đã quá tuổi “cổ lai hy” nhưng cụ vẫn rất khoẻ mạnh và tinh nhanh, cụ cho chúng tôi biết. Cụ là hậu duệ thứ 7 trong gia đình truyền thống làm hương gốc ở làng Cao thôn, xã Bảo khê, huyện Kim động, tỉnh Hưng yên mà ngày xưa thường gọi là làng Đông lỗ. Qua cụ Đức Ngọc và một số tư liệu tôi được biết, nghề làm hương ở nước ta có từ rất lâu rồi khoảng 2000 năm, từ thời Hai Bà Trưng nhưng thời đó chỉ có loại hương đen. Hương đen được làm từ một loại nhựa, gọi là nhựa trám mua ở vùng miền núi phía bắc như Phú Thọ, Thái Nguyên....Nhựa trám được trộn với bột than sau khi tán mịn tạo thành thứ bột dẻo quánh, mầu đen. Mỗi khi se hương người ta véo một ít khoảng ngón tay cái rồi vê vào tăm tre và lăn cho tròn. Loại hương đen này khi thắp lên có mùi hơi hắc, ngai ngái. Nó xuất sứ ở xã Xà Kiều, huyện Ứng Hoà, tỉnh Hà Tây .

Còn loại hương trầm nén, hương vòng như ngày nay thường dùng có nguồn gốc tại quê của cụ là làng Cao thôn, xã Bảo Khê, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên .Cụ Đức Ngọc cho biết: Ở làng cụ ngày xưa có cụ bà tên là Đào Thị Khương, lúc sinh thời cụ lấy chồng người Hoa ở tỉnh Phúc Kiến, Trung quốc, rồi về ở quê chồng bên Phúc kiến. Tại quê chồng cụ theo nghề nhà chồng làm hương. Sau khi chồng mất, buồn thương chồng và nhớ nhà, cụ trở về Việt Nam thăm quê hương, nơi chôn rau cắt rốn. Lúc này tại quê nhà thấy bà con họ hàng nghèo túng vì lúc đó không có nghề phụ gì ngoài nghề nông, khi nông nhàn thì ngồi chơi chẳng có việc làm. Thấy vậy cụ dậy cho bà con họ hàng ở quê nghề làm hương trầm. Từ đó nghề hương trầm xuất hiện ở Việt Nam. Và cũng từ đó cuộc sống của người dân trong làng cũng dần một khấm khá lên, làng xóm đông vui sầm uất hơn. Để tưởng nhớ công ơn của cụ, cụ tổ nghề hương trầm người khai sinh ra nghề hương trầm ở Việt Nam, hàng năm cứ đến ngày 21 tháng 8 âm lịch, mọi người lại trở về quê làm lễ giỗ tổ nghề.

Để làm ra được nén hương trầm trông đơn giản là vậy nhưng quả là cũng lắm gian truân và nhiều công phu. Hoá ra, cái mùi hương dìu dịu, man mát mang đến cho lòng người cảm giác linh thiêng và thành kính ấy được làm ra từ rất nhiều vị, chủ yếu là thuốc bắc. Công việc ấy tưởng chừng rất đơn giản, thậm chí nhiều người còn cho rằng chỉ cần một ít mùn cưa và trầm là làm được. Để làm được những công đoạn này không phải là dễ. Gần 60 nguyên phụ liệu cho một nén hương chủ yếu là những vị thuốc bắc như: Tùng, trắc, quy đầu, bạch chỉ, hắc hương, hoa hồi, quế chi, cam thảo và hàng chục vị khác nữa. Tất cả được đem xay nhỏ thành bột riêng từng loại rồi pha trộn chúng từng thứ theo công thức nhất định. Dù biết rằng đó là bí quyết gia truyền, nhưng tôi hỏi vui cụ tỉ lệ pha trộn các vị thế nào? Cụ chỉ cười, một nụ cười rất hiền lành, đôn hậu. Cụ Đức Ngọc cho biết nghề làm hương là nghề “tích phúc” cho con cho cháu, bởi vậy với tâm niệm lớn nhất của cụ là giữ gìn nghề truyền thống của gia đình, và cụ đã truyền nghề cho con gái là chị Tú chủ hiệu hương Đồng Tiến, số 10 Hàng khoai và con dâu mình là chị Nguyễn Kim Thuý chủ hiệu hương Tiến Thành, ở 146 Trần Nhật Duật - Hà Nội.

Chị Kim Thuý - chủ cơ sở hương Tiến Thành đã không phụ lòng mong ước của mẹ chồng mình. Từ nhiều năm nay, cơ sở hương Tiến thành của chị cũng như cơ sở hương Đồng Tiến của chị Tú đã nổi tiếng trong Hà Nội và nhiều tỉnh thành khác với những sản phẩm từ hương nén, hương vòng và trầm viên.

 

y-nghia-dang-huong-huong-bai

Theo chị Thuý ,công việc làm ra một sản phẩm hương trầm khá tỉ mỉ và phức tạp. Nếu ai không có lòng kiên nhẫn, không yêu nghề thì không làm được. Để có được nén hương thơm, nguyên liệu phải chọn loại thật tốt sau đó các vị thuốc được đem xay nhỏ mịn, khi cân đong phải thật chính xác, đúng tỉ lệ. Dẫn tôi đi thăm xưởng sản xuất, chị nói :”ngay cả khi trộn bột, nước cũng phải đong chính xác ”Sau khi bột hương được trộn nhuyễn, mà phải trộn trong chậu sành, dưới bàn tay khéo léo, thoăn thoắt của người thợ nén hương được hình thành. Công đoạn cuối cùng là lăn que hương vào một thứ bột, trong nghề gọi là bột xoa

Lúc này những nén hương không bị dính vào nhau nữa và được đem đi phơi. Hương được phơi khắp sân, sắc vàng rực rỡ. Hương được bó chân lại với nhau từng bó lớn, thân xoè ra phơi nắng, mầu vàng sáng trông tựa như những bông cúc đại đoá thật đẹp mắt. Còn hương vòng thì công đoạn sản xuất phức tạp hơn nhiều. Tôi hỏi chị sao không đưa máy móc vào sản xuất, chị cho biết hương làm bằng máy bị ép chặt cháy rất lâu, tụng hết bài kinh mà hương vẫn chưa cháy hết là không được vả lại độ thơm cũng bị giảm đi và khói nhiều. Hương làm bằng máy chỉ dùng cho hương muỗi, nhà chị không sản xuất.

Cùng với sự phát triển của nghề làm hương, gia đình chị Thuý đã tạo điều kiện kiếm sống bằng chính sức lao động của mình cho rất nhiều lao động trẻ ở nông thôn trong lúc nông nhàn, hay cho những trẻ em bị khuyết tật. Phần nào giúp cho cuộc sống của họ đỡ khó khăn hơn.

Nhưng giữa thời buổi kinh tế thị trường, hàng ngoại tràn ngập nhiều loại hương nước hoa hoá chất hay hàng giả bầy bán la liệt, người người thắp hương ,nhà nhà thắp hương. Để giữ được chữ tín, giữ được nghề gia truyền và tôn thêm vẻ đẹp bản sắc văn hoá dân tộc, cụ Đức Ngọc nói “người làm nghề hương phải yêu nghề và quan trọng nhất là phải có cái TÂM.”.Khách có thể dễ dàng mua hương ở bất kì đâu, nhưng khi đã thắp nén hương trầm của thương hiệu Đồng Tiến hay Tiến Thành sẽ không bao giờ quên được mùi hương thơm ngát, dịu nhẹ và họ biết rằng mình đang thắp lên bằng tấm lòng thành kính, trong sạch, không vương víu bụi trần.

Cụ còn cho biết hương nhà cụ sản xuất hoàn toàn bằng những vị thuốc bắc, như vậy mùi thơm mới tự nhiên, trong sạch và thoát tục. Còn những loại hương làm bằng hoá chất, mùi nước hoa vừa không tốt cho môi trường và vừa thơm mùi thơm trần tục.

Nén hương biểu tượng cho tấm lòng thành kính của những người đang sống với thế hệ đã khuất. Tượng trưng cho sự biết ơn của thế hệ trẻ với thế hệ cha anh đi trước. Nén hương là sợi dây liên lạc với thế giới tâm linh, nén hương được thắp lên với lòng thành kính tổ tiên .Hương thơm ngan ngát, nhè nhẹ lan toả, khói hương cuộn bay lên mờ ảo. Nhưng đằng sau đó là bao nỗi nhọc nhằn, vất vả, là sự yêu nghề và là cái TÂM của những người làm nghề hương tiêu biểu như gia đình cụ Đức Ngọc - chị Kim Thuý chủ hiệu hương Đồng Tiến và hiệu hương Tiến Thành.

Nguồn: kenhsinhvien

Cây nhang (hương) trong tâm thức người Việt

 

Tục đốt nhang (hay còn gọi là thắp hương, dâng hương) đã có ở nước ta từ lâu đời. Nó đã trở thành một trong những nét văn hóa đặc sắc trong đời sống tâm linh của người Việt Nam. Dù là ngày Tết, ngày giỗ chạp hay ngày thường, người ta đều đốt nhang.

Đặc biệt trong những ngày Tết, nhang càng được đốt nhiều hơn. Vì ngày Tết có nhiều việc cúng kiếng: nào cúng đất trời, cúng tổ tiên ông bà, cúng ông Táo… Và cây nhang trở thành vật không thể thiếu trong những ngày này.


 

Những sợi khói nhang cuộn tròn, rồi phảng phất bay đi để lại mùi hương thoang thoảng, dịu dàng như một sợi dây thiêng liêng gắn kết cuộc sống con người với đất trời, là cầu nối giữa con người ở trần gian với thần thánh, ông bà, tổ tiên đang ở cõi vĩnh hằng.

Theo các nguồn tài liệu, cây nhang có nguồn gốc từ bán đảo Ả-Rập, được các lái buôn người Hy Lạp chuyên chở sang bán tại các nước châu Á, khoảng từ thế kỷ thứ 11. Cây nhang này có mùi thơm dịu, được chiết xuất từ một giống cây mọc ở miền Nam bán đảo Ả-Rập.

Còn theo Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục, cây nhang có nguồn gốc từ Tây vực, đốt hương nghĩa là cầu cho quỷ thần giáng cách.

Khi xưa, tục Tàu tế tôn miếu chỉ dùng cỏ tiêu (cỏ thơm) trộn với mỡ mà đốt cho thơm, chưa có đốt hương. Đến đời Vũ đế nhà Hán, vua sai tướng sang đánh nước Hồn Gia (xứ Tây vực, thuộc Ấn Độ). Vua nước ấy đầu hàng, dâng một tượng thần bằng vàng cho vua Vũ đế đem về đặt trong cung Cam Toàn. Người nước Hồn Gia cũng tế thần ấy, không phải dùng đến trâu, bò mà chỉ đốt hương lễ bái mà thôi. Từ đó, Tàu mới có tục đốt hương.

Sách xưa còn chép rằng: Thứ sử Giao Châu - Trương Tân thường đốt hương ở Cát Lập tịnh xá để đọc đạo thư. Tục đốt nhang ở ta có lẽ bắt đầu từ đó. Rồi cùng với quá trình phát triển của đạo Phật, tập tục đốt nhang du nhập vào nước ta ngày càng phổ biến.

Nhang có nhiều loại, nhiều kiểu: nhang thường, nhang ướp hương, nhang tròn, nhang khoanh… tất cả đều có chung một công dụng: đốt lên cho ấm cửa ấm nhà, đốt lên bàn thờ tổ tiên ông bà, bàn thờ Phật vào hai buổi sáng - chiều như gửi một lời chào đến các vị bề trên, nhằm báo cho các vị biết lúc nào chúng tôi cũng nhớ đến các vị.

 

Theo Tiểu Khang (TNO)